ĐỊNH NGHĨA

Di chứng tổn thương dây thần kinh ngoại biên là các tổn thương thần kinh ngoại biên chưa được điều trị hay điều trị không hiệu quả để lại các khiếm khuyết về vận động và cảm giác sau 3 tháng (kể từ lúc tổn thương).

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

+ Lý do vào viện: rối loạn cảm giác? Liệt? Teo cơ?

+ Bệnh sử: thời gian xuất hiện bệnh, triệu chứng đầu tiên, tính chất triệu chứng, chẩn đoán và điều trị cũ, tiến triển của bệnh, tình trạng hiện tại

+ Tiền sử: đặc điểm nghề nghiệp, thói quen sinh hoạt, tiền sử chấn thương.

+ Yếu hay liệt các cơ vùng thần kinh chi phối + Sức cơ được đánh giá từ M0 đến M5.

+ Giảm, rối loạn hay mất cảm giác vùng thần kinh chi phối

+ Cảm giác được đánh giá từ S0 đến S4 (theo Hiệp hội Phẫu thuật thần kinh Hoa Kỳ). –  Khám dấu Tinel.

Xác định vị trí thần kinh bị tổn thương hay xác định sự phục hồi luồng thần kinh sau khâu nối.

Cận lâm sàng

Lượng giá chức năng

Lượng giá chức năng chi trên của bệnh nhân bằng bộ câu hỏi DASH (Disabilities of Arm, Shoulder and Hand). Bộ câu hỏi này được dùng để đánh giá khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày có sử dụng tay và mức độ ảnh hưởng của tay bệnh đến công việc và các hoạt động thể thao, nghệ thuật. Bệnh nhân trả lời các câu hỏi dựa vào các hoạt động thực tế của họ trong 1 tuần trước đó. Mỗi hoạt động sẽ được cho điểm từ 1 đến 5 tùy vào mức độ khó khăn khi thực hiện hoạt động đó. Sử dụng công thức cho sẵn để tính chỉ số DASH, từ đó lượng giá được mức độ giảm khả năng sử dụng chi trên của bệnh nhân.

Phân loại tổn thương

Các di chứng tổn thương thần kinh ngoại biên thường gặp:

Phân loại của Seddon: ba mức độ

Phân loại theo Sunderland: năm mức độ

So sánh phân loại Seddon và Sunderland

Bảng 23.1. So sánh phân loại Seddon và Sunderland

Seddon

Sunderland

Mất dẫn truyền thần kinh

I

Đứt sợi trục thần kinh

II

BIẾN CHỨNG

SƠ ĐỒ 

NGUYÊN TẮC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị

– Tổn thương thần kinh ngoại biên nói chung được chia thành ba mức độ nặng khác nhau theo Seddon. Thái độ xử trí phụ thuộc nhiều vào mức độ tổn thương:

+ Độ 1: Điều trị bảo tồn, thường hồi phục hoàn toàn

+ Độ 2: Điều trị bảo tồn là lựa chọn ban đầu. Nếu không có dấu hiệu phục hồi thần kinh sau một thời gian điều trị thì nghĩ đến phẫu thuật thăm dò và điều trị. Thường bệnh nhân hồi phục không hoàn toàn

+ Độ 3: Phẫu thuật là bắt buộc. Thần kinh sẽ không hồi phục nếu không được phẫu thuật nối thần kinh. Quá trình phục hồi phụ thuộc nhiều vào phương pháp phẫu thuật và khả năng tái phân phối thần kinh sau phẫu thuật.

Nguyên tắc phục hồi chức năng đối với thần kinh bị tổn thương do chấn thương

– Giai đoạn cấp: ngay sau chấn thương hoặc sau phẫu thuật:

+ Bất động chi tổn thương: thời gian tùy thuộc vào tình trạng tổn thương và phương pháp phẫu thuật

+ Vận động: tần suất và cường độ tập cũng phụ thuộc vào tình trạng tổn thương và phương pháp phẫu thuật

+ Mang máng thần kinh nhằm dự phòng biến dạng

+ Tư vấn cho bệnh nhân biết cách bảo vệ an toàn cho vùng thương tổn, đặc biệt là sau phẫu thuật nối thần kinh. Tránh gây tổn thương cho vùng chi bị mất cảm giác – Giai đoạn hồi phục: khi có dấu hiệu tái chi phối thần kinh:

+ Tái rèn luyện vận động: tập mạnh cơ theo chương trình tăng tiến

+ Giảm tình trạng tăng cảm giác: quá trình tái chi phối thần kinh thường đi kèm với tình trạng tăng cảm giác. Cho bệnh nhân tiếp xúc với nhiều vật làm bằng chất liệu khác nhau để giảm tình trạng trên

+ Tái rèn luyện cảm giác: giúp bệnh nhân học cách nhận biết đồ vật khi sờ.

– Giai đoạn mạn tính: quá trình tái chi phối thần kinh đã đạt đỉnh, một số chức năng vận động và cảm giác không còn khả năng phục hồi thêm được nữa.

+ Tiếp tục sử dụng dụng cụ chỉnh hình để dự phòng co rút gân cơ

+ Sử dụng dụng cụ trợ giúp cho chi trên trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày + Dự phòng tổn thương cho vùng chi bị giới hạn vận động và cảm giác.

ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT

Tùy theo nguyên nhân bị tổn thương thần kinh mà có phương pháp điều trị khác nhau, các phương pháp này thường khi mổ phẫu thuật viên mới quyết định được. Do đó, cần chuẩn bị vài phương án trước khi điều trị.

Giải căng thần kinh, chuyển đường đi thần kinh để giảm độ căng

Phương pháp này áp dụng cho các tổn thương làm căng dây thần kinh như vẹo khuỷu ra ngoài do di chứng gãy trên hai lồi cầu, chèn ép xương gãy hay can xương, đưa đến rối loạn dẫn truyền, nặng nề hơn làm xơ bao sợi thần kinh.

Giải ép thần kinh bị chèn ép

Phương pháp này áp dụng cho các trường hợp thần kinh bị chèn ép từ cấu trúc giải phẫu bên ngoài như dây chằng, can xương, sẹo co rút,…

Khâu nối lại thần kinh

Sử dụng cho các tổn thương đứt thần kinh chưa nối hay đã nối rồi nhưng sau thời gian theo dõi không thấy hiệu quả.

Ghép thần kinh

Dùng một đoạn thần kinh cảm giác của cơ thể hay đồng loại ghép nối vào các tổn thương mất đoạn thần kinh.

Chuyển ghép thần kinh

Tổn thương thần kinh ngoại biên mà đầu gần thần kinh tổn thương bị nhổ đứt hay không tìm được. Một nguồn thần kinh đầu gần khác sẽ được thay thế để ghép, nối vào đầu xa thần kinh tổn thương như chuyển ghép thần kinh XI vào thần kinh vai trên.

Chuyển gân cơ

Khi tổn thương thần kinh vượt quá thời gian phục hồi vận động cơ thì tổn thương thần kinh không thể khâu nối. Các cơ phụ còn lại bên cạnh ít chức năng sẽ được chuyển để phục hồi chức năng cơ do thần kinh tổn thương chi phối, ví dụ chuyển gân trong liệt thần kinh quay.

Thuốc và dụng cụ sau khâu nối phục hồi thần kinh

Thuốc

Dụng cụ

5.8. Theo dõi, tái khám

LIỆT THẦN KINH QUAY, GIỮA, TRỤ

Tổn thương dây thần kinh quay (n. radialis)

ặc điểm giải phẫu – Nguyên ủy:

Dây thần kinh quay xuất phát từ bó sau của đám rối thần kinh cánh tay, đi phía sau động mạch cánh tay.

+ Thần kinh quay cùng với động mạch cánh tay sâu chui qua lỗ tam giác cánh tay tam đầu ra vùng cánh tay sau, rồi chạy trong rãnh thần kinh quay ở mặt sau xương cánh tay (vì vậy, khi gãy 1/3 giữa xương cánh tay thường hay tổn thương thần kinh quay). Ra khỏi rãnh, dây quay chọc qua vách gian cơ ngoài để ra trước, rồi vào rãnh nhị đầu ngoài của hố khuỷu

+ Ở vùng cánh tay sau, trong rãnh quay, dây quay cho các nhánh vận động đến cơ tam đầu cánh tay và các nhánh cảm giác đến da vùng cánh tay ngoài và sau.

Trong rãnh nhị đầu ngoài, ở ngang mức nếp khuỷu thì thần kinh quay chia làm hai ngành cùng xuống cẳng tay: nhánh nông cảm giác và nhánh sâu vận động.

+ Nhánh nông: đồng hành với động mạch quay ở 1/3 giữa cẳng tay và được cơ cánh tay

quay che phủ, cơ này được xem là cơ tùy hành của thần kinh quay. Đến khoảng 3 cm trên mỏm trâm quay thì dây quay rời khỏi động mạch quay, chạy vòng ra sau quanh bờ ngoài xương quay ở dưới gân cơ cánh tay quay, xuyên qua mạc và chia thành 4 – 5 thần kinh mu ngón tay để cảm giác cho nữa ngoài mu tay và hai ngón rưỡi hoặc ba ngón rưỡi các ngón tay ngoài:

Trừ ngón cái, các thần kinh mu ngón tay chỉ chi phối cho phần gần của mu các ngón tay vì phần xa của các ngón tay được chi phối bởi các nhánh gan ngón tay của các thần kinh giữa và thần kinh trụ.

+ Nhánh sâu: đi giữa hai lớp cơ ngửa, chạy vòng quanh cổ xương quay để ra vùng cẳng tay sau. Thần kinh phân nhánh vào cơ ngửa và khi thoát ra ở bờ dưới cơ này thì chia nhiều nhánh ở giữa hai lớp cơ vùng cẳng tay sau để vận động các cơ vùng này: cơ duỗi các ngón tay, cơ duỗi ngón tay út, cơ duỗi cổ tay trụ,… Lúc đầu, thần kinh chạy sau các cơ dạng ngón cái dài và duỗi ngón cái ngắn, sau đó chui ra trước áp sát mặt sau màng gian cốt nên phần này được gọi là thần kinh gian cốt sau, đi xuống dọc theo động mạch gian cốt sau. Thần kinh chia nhánh vào tất cả các cơ lớp sâu của cẳng tay sau (trừ cơ cánh tay quay và cơ duỗi cổ tay quay dài do nhánh bên của thần kinh quay chi phối) và tận cùng như một nhánh tới khớp cổ tay.

6.1.2. Chức năng sinh lý

+ Ở hõm nách: cơ tam đầu cánh tay

+ Trong rãnh nhị đầu ngoài: cơ ngửa, cơ quay thứ nhất.

Nhánh sau điều khiển các cơ sau: quay thứ hai, ngửa ngắn, trụ sau, duỗi các ngón, duỗi ngón út, dạng ngón cái dài, duỗi ngón cái ngắn, duỗi ngón út ngắn, duỗi ngón trỏ.

+ Mặt sau cánh tay

+ Phần giữa mặt sau cẳng tay

+ Bờ ngoài (bờ quay) mặt mu bàn tay, mặt mu ngón cái và đốt 1, 2 của ngón trỏ, nửa ngoài đốt 1 ngón giữa.

Chẩn đoán

Khám và lượng giá chức năng – Quan sát:

+ Dấu hiệu “bàn tay rũ cổ cò” (triệu chứng điển hình)

+ Tình trạng teo cơ, rung thớ cơ phía tay bên liệt so với bên lành trong giai đoạn muộn của bệnh.

+ Cơ lực: liệt hoặc yếu các nhóm cơ do thần kinh quay chi phối bao gồm các cơ duỗi khuỷu, ngửa cẳng tay, duỗi cổ tay và duỗi các ngón. Vị trí tổn thương thần kinh quay càng cao thì số cơ bị liệt càng nhiều + Trương lực cơ: giảm.

Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán nguyên nhân

+ Gãy xương cánh tay mới hoặc cũ

+ Hội chứng liệt tối thứ Bảy + Đi nạng nách không đúng kỹ thuật + Hạch nách, phình mạch chèn ép.

Thường gặp “Hội chứng thần kinh gian cốt sau” do nhánh gian cốt sau của thần kinh quay bị đè ép bởi một số nguyên nhân sau:

+ Gãy xương, can xương, trật đầu trên xương quay

+ U mỡ, u xơ thần kinh, u tế bào Schwan, dị dạng động tĩnh mạch gây đè ép

+ Nghề nghiệp liên quan đến các hoạt động sấp ngửa liên tục cẳng tay như nhạc trưởng, người đánh đàn violin,…

Tổn thương dây thần kinh giữa (n. medialis)

Đặc điểm giải phẫu

Thần kinh giữa (tiếng Anh: median nerve; tiếng Pháp: le nerf médian) là thần kinh phân bố ở vùng chi trên người và một số động vật. Đây là một trong năm dây thần kinh chính bắt nguồn từ đám rối thần kinh cánh tay.

Thần kinh giữa có nguồn gốc từ bó ngoài và bó trong của đám rối cánh tay, chứa các sợi ở rễ bụng C5 – C7 (bó ngoài) và C8 và T1 (bó trong).

Thần kinh giữa là dây thần kinh duy nhất đi qua ống cổ tay. Hội chứng ống cổ tay là tình trạng khuyết tật do thần kinh giữa bị chèn ép trong ống cổ tay.

Đường đi, liên quan, chi phối

Thần kinh giữa xuất phát do các sợi của bó ngoài và bó trong của đám rối cánh tay, qua phần trước cánh tay, cẳng tay và bàn tay, tận cùng là các sợi thần kinh chi phối cơ bàn tay.

+ Sau khi hình thành nhờ các sợi của bó ngoài và bó trong của đám rối cánh tay hợp lại, thần kinh giữa đi vào cánh tay từ nách ở rìa dưới cơ tròn lớn. Sau đó, dây giữa đi chếch xuống dưới và ra ngoài, ở trước ngoài động mạch nách. Thần kinh tiếp tục theo động mạch cánh tay, đi giữa cơ nhị đầu cánh tay (ở trên) và cơ cánh tay (ở dưới). Lúc đầu, nằm bên ngoài động mạch cánh tay; sau đó, bắt chéo trước tạo thành hình chữ X kéo dài. Tới vùng khuỷu trước, thần kinh chạy vào rãnh nhị đầu trong, ở trong động mạch. Bên trong rãnh, thần kinh giữa đi ở phía trong động mạch cánh tay. Thần kinh giữa cho nhánh cơ đến vùng khuỷu và một nhánh chi phối vận động cơ sấp tròn.

+ Thần kinh giữa ở rãnh nhị đầu trong, phía trong động mạch cánh tay, đi qua ở giữa hai đầu cơ sấp tròn, chui sâu ở mạc cân cơ nhị đầu cánh tay, ra ngoài cơ cánh tay. Thần kinh đi qua động mạch trụ (một trong hai nhánh tận của động mạch cánh tay) khi lách giữa hai đầu cơ sấp tròn. Sau đó, thần kinh di chuyển giữa cơ gấp các ngón tay nông (ở trên) và cơ gấp các ngón tay sâu (ở dưới). Thần kinh đi cùng với động mạch giữa (một nhánh của động mạch gian cốt trước). Sau đó, khoảng 5 cm phía trên mạc cơ gấp (cổ tay), thần kinh đi giữa cơ gấp các ngón tay nông (ở trong) và cơ gấp cổ tay quay (ngoài) vào tay.

+ Thân chính của thần kinh giữa chi phối các nhóm cơ nông và sâu ở khoang trước cẳng tay, ngoại trừ cơ gấp cổ tay trụ. Cụ thể:

+ Thần kinh giữa qua ống cổ tay đi vào bàn tay, theo gân của cơ gấp các ngón tay nông, cơ gấp các ngón tay sâu và cơ gấp ngón cái dài. Từ đó, thần kinh chia thành các nhánh cơ quặt ngược và nhánh bì chi phối cảm giác các ngón tay:

Chức năng sinh lý – Vận động các cơ:

+ Ở cẳng tay: sấp tròn, gan tay lớn, bé, gấp các ngón nông, gấp các ngón sâu, gấp ngón cái dài, sấp vuông

+ Ở bàn tay: dạng ngón cái ngắn, đối ngón cái, gấp ngón ngắn, cơ giun 1 và 2 – Vùng cảm giác:

+ Nửa ngoài gan bàn tay

+ Mặt gan các ngón cái, trỏ, giữa và nửa ngoài ngón nhẫn

+ Mặt mu của đốt hai; ba ngón trỏ, giữa và nửa ngoài ngón nhẫn.

Chẩn đoán

Khám và lượng giá chức năng

– Quan sát:

+ Triệu chứng điển hình:

+ Cơ lực: liệt các cơ do thần kinh giữa chi phối. Mất động tác gấp, dạng và đối ngón cái. Nếu tổn thương cao có thể dẫn đến sấp cẳng tay và gấp cổ tay yếu.

+ Nghiệm pháp Tinel: gõ nhẹ liên tục vùng ống cổ tay trong 30 – 60 giây. Dấu hiệu dương tính: tê hoặc cảm giác châm chích vùng cảm giác thần kinh giữa chi phối

+ Nghiệm pháp Phalen: bệnh nhân gấp cổ tay hai bên 90o, áp mu hai bàn tay vào nhau và duy trì tư thế này trong 30 – 60 giây. Dấu hiệu dương tính: tê hoặc cảm giác châm chích vùng cảm giác thần kinh giữa chi phối.

+ Trương lực cơ: giảm.

Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán phân biệt

Bệnh lý chèn ép rễ C6, C7.

Chẩn đoán nguyên nhân

+ Nghề nghiệp liên quan đến gấp khuỷu và sấp cẳng tay quá nhiều, xách đồ vật quá nặng, bó bột cẳng tay, gãy xương cẳng tay, đạn bắn,…

+ Cấp tính: chấn thương phần mềm vùng cổ tay, gãy xương cổ tay, bỏng

+ Mạn tính: mang đai cổ tay hoặc găng tay bó chặt, bất thường giải phẫu các thành phần trong ống cổ tay, sẹo cũ do đã từng mổ ống cổ tay

+ Nghề nghiệp và thói quen sinh hoạt: gấp duỗi cổ tay lặp đi lặp lại, nắm chặt, làm việc với máy tính, làm việc với các dụng cụ rung lắc mạnh.

Phục hồi chức năng và điều trị: tổn thương thần kinh giữa trong hội chứng ống cổ tay

Nhiều bệnh nhân bị hội chứng ống cổ tay đáp ứng tốt với điều trị bảo tồn nếu được phát hiện sớm. Mang máng nâng đỡ cổ tay, giữ ở tư thế trung tính, mang khi ngủ và khi thực hiện những hoạt động đòi hỏi sự vận động cổ tay nhiều. Sử dụng thêm kháng viêm NSAIDs đường uống. Khoảng 90% bệnh nhân bị hội chứng ống cổ tay nhẹ đáp ứng với điều trị bảo tồn sau 4 – 6 tuần điều trị, sau đó duy trì tiếp ít nhất 2 tháng nữa.

+ Tuần 1: tập ngay sau mổ. Gấp duỗi cổ tay nhẹ nhàng, các ngón gấp duỗi tối đa. Mang nẹp cổ tay hỗ trợ

+ Tuần 2: cắt chỉ và chăm sóc sẹo mổ. Bắt đầu tập mạnh cơ và thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày

+ Tuần 3 – 4: tiếp tục tập mạnh cơ. Bệnh nhân được phép thực hiện những hoạt động mạnh hơn và quay trở lại làm việc.

Tổn thương dây thần kinh trụ (n. ulnaris)

Đặc điểm giải phẫu

– Nguyên uỷ:

Dây thần kinh trụ xuất phát từ bó trong của đám rối thần kinh cánh tay, đi phía trong động mạch cánh tay trong ống cánh tay.

Đến 1/3 giữa cánh tay, thần kinh trụ cùng với động mạch bên trụ trên chọc qua vách gian cơ trong ra vùng cánh tay sau và áp sát mặt sau vách gian cơ trong. Sau đó, đi vào rãnh thần kinh trụ ở vùng khuỷu sau.

+ Rãnh thần kinh trụ hẹp và sâu, nằm ở phía trong vùng khuỷu sau

+ Trong rãnh, dây trụ đi giữa hai bó của cơ gấp cổ tay trụ là cơ tùy hành của thần kinh trụ và xung quanh là vòng nối giữa động mạch bên trụ trên và động mạch quặt ngược trụ sau.

+ Thần kinh trụ đi từ phía sau mỏm trên lồi cầu trong đến phía ngoài xương đậu, nó nằm trước cơ gấp các ngón sâu và sau cơ gấp cổ tay trụ

+ Động mạch trụ đi phía ngoài thần kinh trụ ở 2/3 dưới

+ Đến trên cổ tay, thần kinh trụ cho nhánh vận động một cơ rưỡi: cơ gấp cổ tay trụ và hai bó trong cơ gấp các ngón sâu (ngón 4 và 5).

Thần kinh trụ đi vào bàn tay giữa xương đậu và xương móc, ở phía trước mạc giữa gân gấp, phía sau cơ gan tay ngắn và chia làm 2 nhánh: nông và sâu.

+ Nhánh nông:

+ Nhánh sâu:

Chức năng sinh lý

+ Mô út: gan tay ngắn, dạng ngón út, đối ngón út, gấp ngón út ngắn

+ Các cơ gian cốt

+ Cơ giun 3 và 4

+ Khép ngón cái

+ Bó sâu và cơ gấp ngón cái.

Mặt gan nửa trong (nửa trụ) bàn tay, ngón út, nửa trong ngón nhẫn, nửa trong mu bàn tay.

Chẩn đoán

Khám và lượng giá chức năng

– Quan sát:

Triệu chứng điển hình:

+ Dấu hiệu “bàn tay vuốt trụ”: teo các cơ gian cốt và cơ giun bàn tay; duỗi khớp bàn ngón và gấp các khớp liên đốt tạo tư thế vuốt, rõ rệt ở ngón 4, 5

+ Các ngón tay hơi dạng ra, ô mô út teo nhỏ, bẹt xuống, khe gian cốt lõm xuống để lộ rõ xương bàn tay.

+ Các nghiệm pháp:

+ Trương lực cơ: giảm

Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán phân biệt

Tổn thương rễ C8, T1 hoặc tổn thương đám rối đoạn thân dưới, bó trong: yếu một số cơ không do thần kinh trụ chi phối. Ví dụ: C8 cũng chi phối thần kinh cho các cơ gấp ngón cái dài, dạng ngón cái ngắn, đối ngón cái trong khi đó thần kinh trụ thì không. Đo điện cơ góp phần giúp chẩn đoán phân biệt.

Chẩn đoán nguyên nhân

+ Bất thường các cấu trúc giải phẫu, gãy xương cũ hoặc mới, bệnh lý khớp viêm tại vùng khuỷu có thể dẫn đến thần kinh trụ bị chèn ép

+ Duy trì tư thế gấp khuỷu trong thời gian dài hoặc lặp đi lặp lại động tác gấp duỗi khuỷu

+ Bệnh phong.

+ Những người làm nghề đòi hỏi vận động cổ tay nhiều

+ Tiền sử chấn thương vùng cổ tay + U bao hoạt dịch cổ tay.

Phục hồi chức năng và điều trị

Đối với thần kinh trụ bị chèn ép ở khuỷu
Đối với thần kinh trụ bị chèn ép ở kênh Guyon
0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
The best
Mới nhất Go to got a lot of the best
Nội tuyến phản hồi
Xem tất cả các bình luận