1. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DỰA VÀO CẢM GIÁC CHỦ QUAN
– Dựa vào cảm giác chủ quan và mức độ hài lòng của người bệnh, O’Donoghue (1955), Tapper và Hoover (1969) đã đưa ra tiêu chuẩn đánh giá kết quả các phẫu thuật tại khớp gối. Mặc dù có những bất cập như không lượng hóa được các triệu chứng lâm sàng còn tồn tại sau phẫu thuật, các chỉ tiêu đánh giá phụ thuộc nhiều vào cảm giác chủ quan của người bệnh, các phương pháp này đã được nhiều tác giả sử dụng trong thập niên 70 của thế kỷ XX.
– Đánh giá phẫu thuật theo tiêu chuẩn của Tapper và Hoover [112]: rất tốt (khớp gối bình thường, không đau), tốt (đau nhẹ khi vận động mạnh nhưng không hạn chế vận động), vừa (đau thường xuyên khi cử động, hạn chế vận động nhẹ), xấu (đau cả khi nghỉ ngơi, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày).
2. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DỰA VÀO CÁC DẤU HIỆU LÂM SÀNG KHÁCH QUAN
– Có thể kể đến những thang điểm đánh giá chức năng vận động khớp sau phẫu thuật như thang điểm của Lysholm đưa ra năm 1981 [84], của Marshall năm 1982, của Slocum
– Đánh giá kết quả điều trị tổn thương sụn chêm năm 1984. Những thang điểm này dùng để đánh giá kết quả chung sau những phẫu thuật vùng khớp gối, căn cứ vào các dấu hiệu lâm sàng như đau, sưng gối, kẹt khớp và lỏng khớp cũng như dựa vào khả năng phục hồi chức năng vận động khớp như đi lại, lên cầu thang, ngồi xổm và cần dùng dụng cụ trợ giúp khi đi lại để đưa ra những phân loại kết quả khác nhau. Tuy nhiên, đánh giá dựa vào thang điểm Lysholm: rất tốt (91 – 100 điểm), tốt (77 – 90 điểm), trung bình (68 – 76 điểm), xấu (dưới 68 điểm) hay được sử dụng vì đơn giản, thuận lợi.
3. NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
Việc chẩn đoán và điều trị phẫu thuật khớp gối nói chung và sụn chêm nói riêng trước đây còn gặp nhiều khó khăn, do không quan sát hết tất cả các thành phần thương tổn của khớp gối. Sự ra đời và phát triển mạnh của kỹ thuật nội soi khớp đã giúp cho chẩn đoán và điều trị thương tổn sụn chêm bước sang một cuộc cách mạng mới.
– Tại Bệnh viện Chấn thương – Chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Văn Quang (1994) bước đầu dùng nội soi khớp để chẩn đoán và điều trị thương tổn sụn chêm, tuy nhiên, gặp nhiều khó khăn do không đầy đủ dụng cụ [6].
– Tác giả Nguyễn Tiến Bình (2000), Phạm Chí Lăng và cộng sự (2000), trong thông báo khoa học báo cáo ứng dụng nội soi trong điều trị cắt bán phần sụn chêm bước đầu cho kết quả tốt [1],[6].
– Tác giả Nguyễn Quốc Dũng và cộng sự (2003), báo cáo kết quả nghiên cứu sử dụng nội soi cắt sụn chêm với 122 trường hợp và Trịnh Đức Thọ qua phẫu thuật cắt sụn chêm cho 35 trường hợp cũng cho kết quả rất tốt [3],[7].
– Tác giả Nguyễn Mạnh Khánh và cộng sự (2004), với 34 bệnh nhân thương tổn sụn chêm do chấn thương được phẫu thuật nội soi cắt lọc cho kết quả tốt [5]. Năm 2004, tác giả Lê Anh Việt ở Bệnh viện 354 [38] cũng có báo cáo về nội soi cắt lọc sụn chêm cho kết quả tương tự.
– Tác giả Trương Kim Hùng (2009) qua nghiên cứu 116 trường hợp thương tổn sụn chêm, qua đó mô tả hình thái tổn thương qua nội soi: 56,2% rách dọc, 20% rách chéo, 9,6% rách phức tạp, 7,2% rách ngang và 4% rách nan quạt. Tác giả cho rằng kết quả phẫu thuật cắt sụn chêm phụ thuộc vào: hình thái thương tổn, thời điểm can thiệp phẫu thuật và tập luyện sau đó.
– Năm 2012, tác giả Nguyễn Quốc Dũng, trong luận án tiến sĩ của mình có 42/450 trường hợp rách sụn chêm được khâu. Tuy nhiên tác giả chỉ khâu với kỹ thuật từ trong ra ngoài với loại rách dọc ở thân và sừng sau sụn chêm trong và thân sụn chêm ngoài. Kết quả nhóm khâu là rất tốt [2].
– Năm 2012, tác giả Võ Thành Toàn và cộng sự đánh giá kết quả chung dựa vào thang điểm Lysholm tại các thời điểm sau phẫu thuật 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng và 24 tháng, thấy rằng tại thời điểm sau phẫu thuật 1 tháng tỷ lệ bệnh nhân rất tốt và tốt chiếm tỷ lệ thấp nhất (22/72 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 56,56%). Các thời điểm sau
– Đánh giá kết quả điều trị tổn thương sụn chêm phẫu thuật 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng có kết quả tương tự nhau, nhóm kết quả rất tốt và tốt chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với sau phẫu thuật 1 tháng. Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi cũng phù hợp khi so sánh với các tác giả khác như: Hoffelner T. [73], Konan S. [81].
– Cũng trong nghiên cứu này, nếu bệnh nhân đến sớm, khả năng kết quả sau phẫu thuật khâu sụn chêm qua nội soi đạt kết quả rất tốt và tốt là rất cao, ngược lại nhóm bệnh nhân có kết quả xấu và vừa hay gặp ở nhóm đến muộn. Đặc biệt, trong nhóm bệnh nhân đến sớm trước 56 ngày, kết quả phẫu thuật sau 3 tháng không có trường hợp nào xấu và nhóm bệnh nhân tới trước 21 ngày, kết quả sau phẫu thuật 3 tháng 100% là rất tốt và tốt.
KẾT LUẬN
Những năm gần đây, cùng với sự gia tăng các phương tiện giao thông và phong trào tập luyện thể dục thể thao ngày càng phát triển sâu rộng, làm cho số lượng chấn thương khớp gối nói chung và thương tổn sụn chêm nói riêng ngày càng tăng. Thương tổn sụn chêm do chấn thương thường gặp nhiều hơn so với các loại tổn thương sụn chêm do các nguyên nhân khác, chiếm 68 – 75% [43].
– Nhờ sự xuất hiện kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hạt nhân có thể cho hình ảnh tổn thương tương đối chính xác, qua đó giúp phẫu thuật viên đưa ra chẩn đoán và phương pháp điều trị thích hợp và kịp thời, điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc tránh được những hậu quả không đáng có phát sinh từ thương tổn này như hạn chế vận động của khớp gối, teo cơ, thoái hóa khớp cũng như việc phục hồi vận động khớp gối.
– Điều trị thương tổn sụn chêm khớp gối do chấn thương như “nắn lại” sụn bị rách hoặc bất động khớp gối sau chấn thương đã có những kết quả nhất định. Kết quả điều trị các phương pháp này phụ thuộc vào tính chất, hình thái và vị trí của đường rách, tuy nhiên có nhược điểm là thời gian bất động kéo dài sau chấn thương do đó có những hạn chế.
– Phương pháp điều trị phẫu thuật mở khớp gối để cắt sụn chêm bán phần hay toàn phần đã được áp dụng trong một thời gian dài với ưu điểm xử trí triệt để thương tổn nhưng cũng phải bất động sau mổ, thời gian điều trị kéo dài, nguy cơ nhiễm trùng khớp.
– Phẫu thuật nội soi khớp gối lần đầu tiên được tiến hành trên thế giới vào ngày 09 tháng 3 năm 1955 do Watanabe M. thực hiện [40]. Từ đó phẫu thuật nội soi đã có nhiều phát triển nhanh chóng, từng bước hoàn thiện và được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam như hiện nay nhờ vào nhiều ưu điểm: không những chẩn đoán chính xác các thương tổn bên trong khớp gối, mà còn xử trí các thương tổn đó