KHOANG GIẢI PHẪU VÀ ÁP LỰC TRONG KHOANG BÌNH THƯỜNG

Ở đây chỉ các khoang kín dọc theo một đoạn chi (cánh tay, cẳng tay,…) do cân mạc khu trú và ở trong chứa một số bó cơ có kèm theo hoặc không kèm theo bó mạch thần kinh.

Ví dụ:

Diagram

Description automatically generated

Diagram

Description automatically generated

Hình 16.1. Một số khoang giải phẫu chi trên và chi dưới (A → F)

Áp lực trong khoang lành mạnh bình thường là 0 – 5 mmHg. Khi gồng cơ chủ động rồi thôi: áp lực tăng đến 50 mmHg rồi tụt xuống 30 mmHg, chỉ 5 phút sau trở lại trị số bình thường ban đầu (Murabak, 1976).

ĐỊNH NGHĨA

Diagram

Description automatically generated

Hình 16.2. Sinh lý bệnh hội chứng chèn ép khoang

HỘI CHỨNG CHÈN ÉP KHOANG HAY GẶP TRONG GÃY XƯƠNG CHẤN THƯƠNG

Chiếm tỉ lệ cao nhất: 45% tổng số các chèn ép khoang cấp tính (Muraback, 1981). Trong đó chèn ép khoang ở cẳng chân chiếm tỉ lệ cao nhất (McQueen et al; JBJS Br, 2000).

Bảng 16.1. Tần suấn chèn ép khoang theo vị trí gãy xương và chấn thương

Graphical user interface

Description automatically generated with medium confidence

PHÂN LOẠI

Người ta phân biệt hai giai đoạn chèn ép khoang:

Đe dọa chèn ép khoang

Biểu hiện bằng triệu chứng lâm sàng duy nhất là ĐAU:

Chèn ép khoang rõ rệt

Khi các dấu hiệu đau kể trên có kèm theo các dầu hiệu thần kinh: Theo thời gian, lần lượt thấy:

Cách phân loại trên cho phép có thể chẩn đoán có biến chứng chèn ép khoang (tuy chưa đo áp lực trong khoang). Song để quyết định cách thức điều trị chèn ép khoang phải dựa vào hai yếu tố:

THỜI GIAN CHÈN ÉP KHOANG

NGƯỠNG CỦA ÁP LỰC TRONG KHOANG

Các dấu hiệu lâm sàng và các mốc thời gian chèn ép khoang nói trên đủ để chẩn đoán hầu hết các trường hợp chèn ép khoang và chọn phương pháp điều trị thích hợp. Một số ít trường hợp không thể khai thác được các dấu hiệu trên (nạn nhân hôn mê, trẻ em) cần phải đo áp lực trong khoang.

word image 1268 5

Hình 16.3. Đo áp lực khoang theo phương pháp Whitesides

word image 1268 6

Hình 16.4. Dụng cụ đo áp lực Stryker Kit

Nếu áp lực trong khoang < 30 mmHg các tổn thương còn có thể tự hồi phục. Vượt quá trị số đó một phần cơ bị hoại tử. Áp lực trong khoảng 30 mmHg được coi là ngưỡng giữa điều trị bảo tồn và phẫu thuật giải áp.

CHẨN ĐOÁN

Cần xác định:

Các triệu chứng lâm sàng của mỗi giai đoạn kể trên đủ để chẩn đoán. Song phải xác định thời gian chèn ép khoang bao lâu để chọn cách điều trị thích hợp.

ĐIỀU TRỊ

Trong giai đoạn đe dọa chèn ép khoang và thời gian chèn ép < 6 giờ

Điều trị bảo tồn, bao gồm:

Chèn ép khoang từ 6 giờ đến 15 giờ

Phải phẫu thuật tức thì: rạch rộng da và cân mạc để giải chèn ép. Sau đó phải cắt lọc các mô chết (đồng thời hoặc thì hai) để chống nhiễm trùng.

Chèn ép khoang > 15 giờ

Cần cân nhắc giữa phẫu thuật giải chèn ép và phẫu thuật đoạn chi. Đôi khi phẫu thuật giải chèn ép gây trụy tim mạch kéo dài hay suy thận vô niệu phải đoạn chi sớm để cứu sống nạn nhân.

Dù điều trị chèn ép khoang trong giai đoạn nào cũng phải điều trị choáng chấn thương sớm và có hiệu quả.

3.5 2 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
The best
Mới nhất Go to got a lot of the best
Nội tuyến phản hồi
Xem tất cả các bình luận